vietnamese Tiếng Việt english English
Hôm nay:
Tin mới đăng:
Internet
Truyện ngắn
Kỹ năng sống
Không gian đẹp
Bài hát hay Việt Nam
Tình yêu
Sách hay
Nghệ thuật

Trong không khí rộn ràng từ khắp nơi đón mừng ngày Noel mới lại đến, M21love lại thầm thì với bạn một câu chuyện ngắn, một giai thoại đủ để một lần nữa, chúng ta quên đi những phiền muộn, những nhọc nhằn chất chứa ngày qua ngày vẫn đang ám ảnh mỗi người, và cùng hướng về đêm Thánh cùng người người đón Noel trong tình thân, yêu thương và ấm áp. 

Một Thầy tu trẻ nọ được gởi đến làm việc với một số anh em khác, công việc của họ là dệt một khung vải rộng lớn, trên đó mỗi người ngày ngày dệt phần được trao phó, việc làm xem ra độc điệu và vô nghĩa.

Ngày nọ, không còn chịu đựng nổi một công việc nhàm chán như thế, Thầy tu thốt lên với tất cả sự giận dữ của mình:

- Trước khi con được sai đến đây, người ta nói với con về một công trình nghệ thuật cao cả mà con sẽ góp phần vào. Bây giờ con chỉ thấy rằng, con phải dùng kim đâm qua xỏ lại như một cái máy, con không thấy đâu là nghệ thuật cả.

Nghe thế, vị Linh mục mới nói với thầy như sau:

- Con ơi, làm sao con thấy được công trình nghệ thuật mà chúng ta đang cộng tác để thực hiện, bởi những gì con đang thấy là mặt trái của tấm thảm. Hơn nữa, việc con đang làm là một điểm nhỏ trong công trình mà thôi.

Khi tấm thảm đã hoàn thành, người ta lật tấm thảm lại. Lúc bấy giờ, vị tu sĩ trẻ mới thấy rằng mình góp phần vào một tuyệt tác. Đó là bức tranh của Ba đạo sĩ triều bái Hài Nhi Giêsu, những đường kim mà Thầy tu trẻ ngày ngày đút qua xỏ lại, đã vén lên chính hào quang sáng chói trên đầu Chúa Hài Nhi. Điều mà thầy cho là vô nghĩa nhất giờ đây hiện lên như một kỳ công.



Cuộc đời của mỗi người chúng ta có lẽ cũng giống như một tấm thảm nhìn từ mặt trái. Những cái độc điệu nhàm chán dệt nên cuộc sống của mỗi người, đôi khi che khuất hướng đi và ý nghĩa cuộc đời. Những mất mát, thất bại và khổ đau càng làm chúng ta choáng ngợp, hụt hẫng. Nhưng khi nhìn lại, chúng ta mới thấy rằng chính ta đã làm nên một kiệt tác của chính đời mình.


Cũng lâu rồi Ali không Update nhạc. Nay có thời gian ngồi lại tìm lại những bài hát giáng sinh và sắp xếp thành Playlist thân tặng bạn đọc.

Có lẽ người nghe không lạ gì với phong cách nghe nhạc của M21love trong hàng loạt các Playlist đã đăng tải trước kia. Một chút nhẹ nhàng, một chút rộn ràng với điều Slow Rock quen thuộc. Trong tiếng gió xôn xao cùng cái lạnh tê người, đâu đó trong một góc nhỏ của tâm hồn, ta lại lắng lòng cùng những giai điệu bất hủ của mùa Noel an lành.

Nhân dịp giáng Sinh 2014 lại về, Ali xin gởi đến bạn cùng người thân một mùa giáng sinh lời chúc sức khỏe, an lành và ấm áp. 

Merry Christmas! Giáng sinh vui vẻ!



Cây Giáng Sinh đã đến Công trường Thánh Phêrô tỏa sáng vào ngày 19 tháng 12 năm 2014.

Một cây thông Noel khổng lồ, một cây thông trắng cao hơn 80 feet sẽ được đặt tại Công trường Thánh Phêrô, đã đến tại Vatican.

Ánh sáng của cây Giáng Sinh sẽ tỏa sáng vào chiều thứ Sáu, ngày 19 tháng12. Đồng thời, Vatican cũng sẽ giới thiệu các cảnh Giáng sinh tại Công trường Thánh Phêrô, được cấu hình 25 hình ảnh sắp xếp theo kích thước thật.Năm nay, cây Giáng Sinh đến từ các tỉnh Fabrizia, Calabria của Ý. Cảnh Giáng Sinh này là món quà từ Verona dành cho Arena Foundation. (Jos. Tú Nạc, NMS)

Cùng với cây Noel là một hang Belem lớn được làm ngay tại chân cột tháp Obelisco trước Đền Thánh Phêrô. Hang Belem này sẽ mở màn từ ngày 24 tháng 12 đến ngày 2 tháng 2. Đây là nét văn hóa tôn giáo đẹp đẽ đã có từ năm 1982, thời Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Thực ra truyền thống này đã khởi nguồn từ rất xa xưa khi thánh Phanxicô Assisi vào năm 1223 đã làm để diễn tả Mầu Nhiệm Belem. Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI đã theo truyền thống này và Ngài đã nhấn mạnh và xác nhận ý nghĩa giá trị của việc làm hang Belem và cây Noel không chỉ là diễn tả các yếu tố tinh thần tôn giáo mà còn cả các yếu tố văn hóa và nghệ thuật. Sau dịp Giáng Sinh, cây Noel sẽ được hạ xuống. Phần gỗ sẽ được trao cho các nghệ nhân để chế tác thành những sản phẩm văn hóa và nghệ thuật. Các sản phẩm này sẽ được bán và số tiền thu được Tòa Thánh sẽ đem giúp đỡ những người nghèo.

Theo truyền thuyết, ngay từ 2000 đến 1200 trước Công nguyên đã có tục lệ trưng bày cây thông épicéa vào ngày 24 tháng 12, bởi vì người ta xem như ngày này là ngày tái sinh của Mặt trời. Trước đây, người Đông Âu (Celtes) dùng lịch theo chu kì Mặt trăng. Mỗi tháng của năm đều liên kết với một loại cây. Ngày 24 tháng 12 nhắm tiết Đông chí được đặt tên là tùng bách (épicéa). Để làm lễ cho ngày Đông chí, một cây xanh tượng trưng cho sự sống được trang trí bởi trái, hoa và lúa mì.

Năm 354, Giáo hội Công giáo định lễ Giáng Sinh được cử hành ngày 25 tháng 12. Theo dòng thời thời gian, cây Noel có một lịch sử hình thành và đến nay nó đã trở thành thân quen mỗi dịp Giáng Sinh về.


Người ta kể lại rằng: thánh đan sĩ Boniface (sinh năm 680) đã phá tục thờ cây cối. Ngài thuyết phục các đạo sĩ người Đức ở vùng Geismar là cây sồi không phải là cây thiêng. Ngài cho hạ một cây sồi. Khi đốn cây, sồi lăn xuống triệt hạ các cây mọc trên triền dốc, chỉ trừ cây thông. Thánh Boniface coi đó là điềm lạ, nên đã thuyết giảng rằng : ”Kể từ nay, ta đặt tên cho cây thông là cây Chúa Hài Đồng”. Từ đó, người ta trồng cây thông trên khắp nước Đức để mừng lễ Giáng Sinh.

Đến thế kỷ thứ XI, cây Noel được trang hoàng bằng những trái pom đỏ, tượng trưng cho cây thiên đàng. Trên đó người ta treo trái pomme của bà Eva.

Từ thế kỷ thứ XII, cây sapin được xuất hiện tại Âu Châu, vùng Alsace. Người ta gọi “Cây Noel” lần đầu tiên tại Alsace vào năm 1521.

Thế kỷ thứ XIV, người ta trang trí cây thông bằng những trái pomme của bà Eva, kẹo và bánh. Cũng vào thời kì đó, một ngôi sao trên đỉnh cây tượng trưng cho ngôi sao Bethleem bắt đầu được phổ biến. Năm 1560 những người theo đạo Tin Lành phát triển truyền thống cây Noel.

Thế kỷ XII và XIII, các cây sapin chiếu sáng đầu tiên xuất hiện. Người ta dùng những vỏ trái hồ đào (noix) đựng đầy dầu, trên mặt để tim đèn, hay đèn sáp mềm, cột quanh cây thông.

Năm 1738, Marie Leszcynska, vợ vua Louis XV nước Pháp, đã trang hoàng một cây Noel trong lâu đài Versailles.

Tại Alsace-Lorraine, người ta thấy càng ngày càng nhiều cây sapin, nơi đầu tiên có truyền thống này.

Các nước Thuỵ Điển, Đan Mạch, Na Uy thường trang hoàng nhà cửa cây xanh nhân dịp năm mới để xua đuổi ma quỷ. Họ còn dựng cây cho chim trú ngụ trong mùa Giáng Sinh.

Năm 1837, bà công tước Orléans, Hélène de Mecklembourg, gốc người Đức cho người trang hoàng một cây sapin tại điện Tuileries.

Làm lễ Giáng Sinh quanh một cái cây, biểu tượng cho cây trên Thiên Đàng và đủ loại kẹo đã trở thành một truyền thống nhanh chóng bên Đức. Phải chờ đến gần một thế kỷ để truyền thống đó đến mọi gia đình người Pháp, nhất là sau chiến tranh 1870, có hàng ngàn gia đình người Alsace-Lorraine di cư qua Pháp. Chính nhờ thời kì đó mà cả nước Pháp thu nhập truyền thống này.

Đầu thế kỷ thứ 19, Cây Noel được nhập vào nước Anh từ từ và rất được tán thưởng, nhờ ông hoàng Albert, chồng của Nữ hoàng Victoria. Vào thời đó, người ta gọi cây Noel là cây Victorian Tree. Cây Victorian Tree được trang trí bằng đèn sáp, kẹo cùng các thứ bánh treo ở cành cây bằng dây giấy đủ màu.

Cây Noel được thịnh hành nhất vào thế kỉ thứ 19. Cây Noel cũng được những nước Áo, Thuỵ Sỹ, Phần Lan, Hoà Lan tán thưởng trong thời kì này. Hiện nay khắp nơi trên thế giới đều tổ chức lễ Giáng Sinh và chưng cây Noel.

Tương truyền về thánh Boniface kể rằng, một hôm trên đường hành hương, Ngài tình cờ bắt gặp một nhóm những kẻ ngoại đạo sùng bái đang tập trung xunh quanh một cây sồi lớn, dùng một đứa trẻ để tế thần. Để dừng buổi tế thần và cứu đứa trẻ, thánh nhân hạ gục cây sồi chỉ bằng một quả một quả đấm! Tại nơi đó đã mọc lên một cây thông nhỏ. Vị thánh nói với những kẻ ngoại đạo rằng cây thông nhỏ là cây của sự sống và nó tượng trưng cho cuộc sống vĩnh hằng của Chúa Cứu Thế.

Tương truyền, một lần Martin Luther, người sáng lập đạo Tin Lành dạo bước qua những cánh rừng vào một đêm Noel khoảng năm 1500. Trời quang và lạnh. Hàng triệu vì sao lấp lánh qua kẻ lá.Ông thực sự ngỡ ngàng trước một loài cây nhỏ, trên cành cây tuyết trắng phủ đầy, lung linh dưới ánh trăng.Cảnh vật hôm đó đã làm Luther thực sự rung động. Vì thế, khi trở về ông đã đặt một cây thông nhỏ trong nhà và kể lại câu chuyện này với lũ trẻ. Để tái tạo ánh lấp lánh của muôn ngàn ánh sao, ông đã treo nến trên cành cây thông và thắp sáng những ngọn nến ấy với lòng tôn kính ngày Chúa Giáng Sinh.

Một truyền thuyết khác lại kể rằng vào một đêm Noel đã rất lâu rồi, có một người tiều phu đang trên đường trở về nhà thì gặp một đứa trẻ bị lạc và lả đi mặc dù nghèo khó nhưng người tiều phu đã dành lại cho đứa trẻ chút thức ăn ít ỏi của mình và che chở cho nó yên giấc qua đêm. Buổi sáng khi thức dậy, ông nhìn thấy một cái cây đẹp lộng lẫy ngoài cửa. Hóa ra đứa trẻ đói khát tối hôm trước chính là Chúa cải trang. Chúa đã tạo ra cây để thưởng cho lòng nhân đức của người tiểu phu tốt bụng.

Nguồn gốc thực của cây Noel có thể gắn liền với những vở kịch thiên đường. Vào thời thượng cổ, những vở kịch đạo đức được biểu diễn khắp Châu Âu, thông qua các vở kịch ấy người ta có thể truyền bá các bài Kinh Thánh. Những vở kịch nói về nguồn gốc của loài người và sự dại dột của Adam và Eva tại vườn Eden, thường được diễn vào ngày 24 tháng 12 hằng năm. Cây táo là một đạo cụ trong vở kịch, nhưng vì các vở kịch được diễn vào mùa đông, các loài cây đều chưa kết trái nên các diễn viên phải treo các quả táo giả lên cành cây.

Phong tục cây Noel trở nên phổ biến ở Đức vào thế kỉ XVI. Người theo Kitô giáo mang cây xanh vào trong nhà và trang hoàng cho chúng trong dịp lễ Giáng Sinh.

Ở những vùng vắng bóng cây xanh, mọi người tạo ra các đồ vật hình chóp từ gỗ và trang trí cho nó các cành cây xanh và nến. Chẳng bao lâu sau, phong tục cây Noel trở nên phổ biến ở các nước Châu Âu.

Theo một truyền thống của nước Mỹ, một cuộc vui tổ chức xung quanh cây Giáng Sinhvào một đêm lạnh lẽo ở Trenton, New Jersey trong thời gian nội chiến đã làm thay đổi cục diện cuộc chiến.

Những người lính phe liên bang quá nhớ nhà, nhớ những ngọn nến được thắp sáng treo trên các cành cây Thông Giáng Sinh, đã bỏ nơi gác để ăn uống vui vẻ. Washington đã tấn công và đánh bại họ trong đêm đó.

Vào giữa thế kỷ XIX, hoàng tử Albert chồng tương lai của nữ hoàng Victoria ra đời. Chính ông đã phổ biến rộng rãi cây Giáng Sinh vào nước Anh. Năm 1841, đôi vợ chồng hoàng gia này đã trang hoàng cây Giáng Sinh đầu tiên của nước Anh tại lâu đài Windon bằng nến cùng với rất nhiều laọi kẹo, hoa quả và bánh mì gừng. Khi cây Giáng Sinh trở thành thời thượng ở Anh thì những gia đình giàu có đã dùng tất cả những đồ vật quý giá để trang trí cho nó. Vào những năm 1850, theo sự mô tả của đại văn hào Charles Dickens thì cây Giáng Sinh ở Anh được trang hoàng bằng búp bê, những vật dụng nhỏ bé, các thiết bị âm nhạc, đồ trang sức, súng và gươm đồ chơi, hoa quả và bánh kẹo. Sau khi đã tồn tại ở Anh thì phong tục cây Noel cũng trở nên phổ biến trên khắp các vùng thuộc địa của đế chế Anh, tới cả những vùng đất mới như Canada.

Cây Noel đầu tiên được dân chúng ở Mỹ biết đến là vào những năm 1830. Khi hầu hết người dân Mỹ coi cây Giáng Sinh là một điều kì cục thì những người Đức nhập cư ở Pennsylvania thường mang cây Giáng Sinh vào các buổi biểu diễn nhăm tăng thêm tiền quyên góp cho nhà thờ. Năm 1851, một mục sư người Đức đặt một cây Giáng Sinh trước cửa nhà thờ của ông làm cho những người dân xứ đạo ở đó đã bị xúc phạm và buộc ông phải hạ nó xuống. Họ cảm thấy đó là một phong tục ngoại đạo.

Tuy nhiên, vào những năm 1890, nhiều đồ trang trí bắt đầu được nhập từ Đức vào và từ đó tục lệ về cây Giáng Sinh trở nên phổ biến ở Canada và Mỹ. Có một sự khác biệt lớn giữa cây Giáng Sinh của Châu Âu và Bắc Mỹ. Cây của Châu Âu nhỏ, hiếm khi cao hơn 1,5 mét chỉ khoảng 4 -5 feet trong khi cây của Bắc Mỹ cao tới trần nhà.

Năm 1900, cứ 5 gia đình ở Bắc Mỹ thì có một gia đình có cây Giáng Sinh, và hai mươi năm sau phong tục này trở nên khá phổ biến. Vào những năm đầu thế kỉ XX, người dân Bắc Mỹ thường trang trí cây thông bằng đồ trang trí do chính tay họ làm ra. Đồ trang trí truyền thống của người Canada và người Mỹ gốc Đức gồm có quả hạnh nhân, quả hạch, bánh hạnh nhân với nhiều hình dạng thú vị khác nhau. Những hạt bắp chiên nhiều màu sắc, được trang trí cùng những quả phúc bồn tử và các chuỗi hạt. Cũng vào thời gian này bắt đầu xuất hiện những dây đèn trang trí trên cây Giáng Sinh, nhờ nó cây thông rực rỡ hơn nhiều lần. Ánh sáng trang trí bằng đèn điện kéo dài hơn và an toàn hơn rất nhiều so với ánh sáng toả ra từ những ngọn nến.

Mỗi năm khi ngày Giáng Sinh tới, một cây Noel lộng lẫy được đặt tại quảng trường trung tâm Bentall thành phố Vancouver, phía nam British Columbia. Và dân chúng tập trung xung quanh cây Noel đầu tiên vừa được dựng lên và chưa được trang hoàng lộng lẫy kia. Rồi ở cuối thành phố cây thông sáng bỗng bừng lên với muôn vàn ánh đèn đầy màu sắc, cùng lúc đó đội hợp xướng nhà thờ ca vang bài hát mừng lễ Giáng Sinh. Tại ngọn đồi Parliament ở Ottawa, một cây Noel rực rỡ ánh đèn màu được đặt cạnh ngọn đuốc thế kỷ của Cananda cùng với âm vị ngọt ngào của giai điệu Giáng Sinh tuyệt vời từ tháp hoà bình Carillon vang đến (theo thánh nhạc ngày nay số 52).

Trong giờ đọc kinh truyền tin Chúa nhật 19.12.2004, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã diễn giải ý nghĩa cây Noel: ”Ta thường trưng bày bên cạnh máng cỏ một cây thông Giáng sinh, vốn là truyền thống tốt đẹp lâu đời nhằm ngợi ca cuộc sống. Vào mùa đông rét mướt, cây thông vẫn xanh tươi để nói rằng cuộc sống không bao giờ bị hủy diệt. Các quà tặng Giáng sinh được bày dưới gốc cây. Biểu tượng này muốn nói rằng cây Giáng sinh là cây nhân sinh mang hình ảnh Đức Kitô. Đây chính là món quà Thiên Chúa ban cho nhân trần. Thông điệp về cây thông Giáng sinh còn mang ý nghĩa cuộc sống xanh tươi như tặng vật của tình bạn và lòng yêu thương, là sự tương trợ huynh đệ và sự tha thứ, là sự chia sẻ và lắng nghe tha nhân”.

Giáng Sinh đã trở thành một đại lễ của nhân loại. Dù tin hay không tin vào Chúa Giêsu, mọi người đều hân hoan đón đợi và vui tươi mừng lễ.

Giáng Sinh có lẽ là ngày hội lớn duy nhất trên trái đất được đón mừng bởi mọi quốc gia, mọi sắc tộc, mọi tầng lớp xã hội. Từ núi cao, trong rừng sâu, xuống đồng bằng, vào thị tứ giầu sang….Qua đủ mọi hình thức: Hang đá máng cỏ, cây Noel, nhóm vài cây củi trên rừng, thắp ngọn nến đơn sơ trong ngôi nhà thờ bé nhỏ nghèo nàn vùng quê hẻo lánh, hay trăm ngàn ánh đèn muôn mầu rực rỡ chốn đô hội văn minh tráng lệ, khắp nơi đón mừng và cùng hát lên tâm tình:

“Vinh danh Thiên Chúa trên trời.
Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2,14).

Giáng sinh đang về trên khắp mọi nơi trần thế. Hang Đá Máng Cỏ, Cây Noel đã trở nên một nét đẹp của “lễ hội văn hóa Giáng Sinh”. Bình an và niềm vui là quà tặng của Giáng sinh. Cây Noel lộng lẫy ánh đèn nhấp nháy sáng lên tia hy vọng như mời gọi chúng ta hãy tỏa sáng tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc sống hàng ngày.

Đứa trẻ lang thang trên những con đường đất xóm làng miền Tây, một chiều mang đầy gió biển xôn xao, những mảnh đời bước lầy bước thụt, những con đường trơn trượt sau những chiều mưa. Nhặt lại mình trên những dòng sông ký ức, tôi chỉ nhặt lại được những đốm sáng của hoàng hôn còn sót lại.

Nhớ về quê, những năm tháng tuổi thơ còm cõi, bao rau muống, những gánh rơm, bó lúa đè nặng trên đầu ghì chặt. Tôi nhận ra tôi giữa những em bé đang khom mình dưới những mương rãnh, muốn tát cạn một khúc mương để mong nhặt nhặn những con cá còn sót lại. Đời vẫn đục trong, đã bao lần đầy rồi lại vơi, cuộc sống cứ  ít dần đi những cơ may để tìm ra những con cá lớn.


Chợt đâu đó, nhớ lại trong tôi dòng thơ của Du Tử Lê thủa nào: “Như loài chim bói cá, trên cọc nhọn trăm năm, tôi tìm đời đánh mất, trên vũng nước cuộc đời.” Tôi  giống như những đứa trẻ trong vũng nước cuộc đời, đi tìm cho ra bóng dáng của mình ẩn hiện trên dòng nước. Cuộc đời vẫn chảy trôi, bóng hình cứ thấp thoáng, trong làn hơi nước mỏng, cuộc đời rơi mất.

Tôi nhận ra tôi trên những con đường trơn trượt, niềm vui của đứa trẻ chân đất, lấm trên thân đầy bùn, những trò chơi vật lộn, những ngụp lặn đuổi bắt trên sông, đã bao lần đầy rồi vơi những niềm vui đơn giản. 

Như những đứa trẻ đang lặn lội bên những bờ ruộng tìm bắt con cá, con cua, tôi đang lang thang đi tìm một hòai vọng, những ước mơ thật đơn giản như mỗi ngày bắt cua bắt cá, cuộc đời vẫn trong đục. Cuộc đời vẫn chảy trôi, từng chén canh húp vội.

Nhớ về cuộc đời. Ngọn đèn dầu mù tối, cố vặn thật lớn vẫn không đủ soi sáng cả căn nhà tranh vách đất. Những chú muỗi hung hăng không lúc nào thiếu vào lúc chiều tối, những chú bọ mát vào buổi sáng, những chú ruồi buổi trưa. Cuộc đời của kẻ nghèo khổ bị nhiều thứ ăn hiếp, thương cho phận người, thương cho những đứa trẻ còm cõi.

Những mảnh ruộng nhỏ bé mỗi ngày hẹp lại vì nợ nần, những đứa bé đã gầy lại gầy hơn, những chiếc bóng đã khòm khập xuống như  không còn đủ sức. Bóng còm cõi bước lầy bước thụt trên bờ ruộng xanh xao.

Nhớ về cuộc đời. Như bức tranh buồn của chiều vàng, người phụ nữ gánh nặng đi trên đồi cát, hùng hực hơi nóng, cuộc đời buồn tủi, không nhìn xa hơn bước chân của mình, bóng đổ dài trên dải cát đơn độc. Hết những đồi cát này đến đồi cát khác, cuộc đời như đang lún dần trong những nghèo khó cô đơn. Chiều vàng và bóng người phụ nữ ngã dần trên cát.

Nhớ về cuộc đời. Cuộc đời như khúc nhạc buồn rơi đọng lại trên những mảnh vỡ, đứa trẻ đi nhặt những gì người ta bỏ đi để dệt lại cuộc đời nghèo khó, cái nghèo khó từ bao đời, như chiếc áo vá chằng vá đụp vẫn còn hở vai, những chiếc vai gánh gồng cuộc đời, lấy gì có thể vá. Cuộc đời buồn như bản nhạc rách nát, chữ còn chữ mất, có muốn diễn tả thật hay cũng đành xếp lại để mục với thời gian.

Buồn khúc hay cuộc đời buồn, như không thể gọi tên chính xác, như trường ca hay như đỏan khúc.

"Món quà Giáng Sinh" (nhan đề gốc tiếng Anh "The Gift of the Magi"), là một truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn người Mỹ O. Henry, có nội dung kể về một cặp vợ chồng trẻ và cách họ đối phó với những thách thức của việc mua quà tặng Giáng sinh bí mật cho nhau với số tiền ít ỏi mà họ có. Cốt truyện và tình huống trớ trêu của cuối truyện là một câu chuyện tình cảm động với một bài học đạo đức về cách tặng quà và trở thành một câu chuyện phổ biến để thích ứng với những tình huống trớ trêu và biểu lộ tình cảm cho nhau trong những dịp đặc biệt, nhất là trong mùa Giáng sinh.

Truyện ngắn này được in lần đầu ngày 10 tháng 4 năm 1906. Đây là một trong các truyện của O. Henry được độc giả phương Tây yêu thích nhất và cũng có thể được xem là một trong những truyện ngắn về Giáng Sinh hay nhất mọi thời đại.


Một đồng tám mươi bảy xu, đúng như vậy. Hàng ngày, cô cố gắng tiêu thật ít tiền khi đi chợ. Cô đi loanh quanh tìm mua thứ thịt và rau rẻ nhất cho bữa ăn hàng ngày, ngay cả lúc cảm thấy hết sức mệt mỏi cô vẫn cố tìm kiếm. Tiết kiệm được đồng nào hay đồng đó.

Della đếm lại số tiền ít ỏi một lần nữa. Không hề có sự nhầm lẫn, chỉ có một đồng tám mươi bảy xu, và ngày mai sẽ là lễ giáng sinh.

Cô sẽ không thể làm gì hơn, chỉ còn cách ngồi xuống và khóc mà thôi. Ở đó, trong một căn phòng nhỏ, tồi tàn, cô đang nức nở.

Della sống trong căn phòng nhỏ nghèo nàn này với chồng của cô, James Dillingham Young, ở thành phố NEW YORK.

Họ có một phòng ngủ, một phòng tắm và một nhà bếp. James Dillingham Young may mắn hơn cô vì anh ấy có việc làm. Tuy vậy đó không phải là một công việc kiếm được nhiều tiền. Tiền thuê căn phòng này chiếm gần hết lương của anh ấy. Della đã cố gắng rất nhiều để tìm một công việc nhưng vận may đã không mỉm cười với cô. Tuy nhiên, cô rất hạnh phúc khi ôm Jim, James Dillingham Young, trong tay mỗi khi anh trở về. 

Della đã ngừng khóc. Cô lau khô mặt rồi đứng nhìn một chú mèo xám trên bức tường đồng màu với nó bên cạnh con đường tối ngoài cửa sổ. 

Ngày mai là Noel và cô chỉ còn một đồng tám mươi bảy xu để mua cho Jim, Jim của cô, một món quà. Cô muốn mua một món quà thật sự có ý nghĩa, một thứ có thể biểu hiện được tất cả tình yêu cô dành cho anh.

Della chợt xoay người chạy đến bên chiếc gương treo trên tuờng. Mắt cô sáng lên. 

Cho đến bây giờ, gia đình James Dillingham Young chỉ có hai vật quí giá nhất. Một thứ là chiếc đồng hồ vàng của Jim. Chiếc đồng hồ này trước đây thuộc sở hữu của cha anh ta và trước nữa là ông nội anh. Thứ còn lại là mái tóc của Della. 
Della thả nhanh mái tóc dài óng mượt xuống lưng. Thật tuyệt đẹp, không khác nào như một chiếc áo khoác đang choàng qua người cô. Della cuộn tóc lên lại. Cô đứng lặng đi rồi thút thít một lát. 

Della bước chậm rãi qua các cửa hàng dọc hai bên đường rồi dừng lại trước bảng hiệu "Madame Eloise". Tiếp cô là một phụ nữ mập mạp, bà ta chẳng có một chút vẻ "Eloise" nào cả.

Della cất tiếng hỏi: "Bà mua tóc tôi không?"

- "Tôi chuyên mua tóc mà", bà ta đáp và bảo : "Hãy bỏ nón ra cho tôi xem tóc của cô đi".

Suối tóc nâu đẹp tụyệt vời buông xuống.

- "Hai mươi đồng" - bà ta định giá, bàn tay nâng niu mái tóc óng ả.

- "Hãy cắt nhanh đi! và đưa tiền cho tôi" - Della nói. 

Hai giờ tiếp theo trôi qua nhanh chóng. Cô tìm mua quà cho Jim trong các cửa hiệu trong niềm vui khôn tả. Cuối cùng cô cũng chọn được một thứ. Ðó là môt sợi dây đồng hồ bằng vàng. Jim rất quí chiếc đồng hồ của mình nhưng rất tiếc là nó không có dây. Khi Della trông thấy sợi dây này cô biết rằng nó phải là của anh và cô phải mua nó. 

Cô trả hai mươi mốt đồng để mua và vội vã trở về nhà với tám mươi bảy xu còn lại. 

Ðến nhà, Della ngắm mái tóc cực ngắn của mình trong gương và nghĩ thầm :"Mình có thể làm gì với nó đây?". Nửa giờ tiếp theo cô nhanh chóng chuẩn bị mọi thứ. Xong Della lại ngắm nghía mình trong gương lần nữa. Tóc của cô bây giờ toàn những sợi quăn quăn khắp đầu. "Chúa ơi, mình trông như một con bé nữ sinh ấy!". Cô tự nhủ: "Jim sẽ nói gì khi thấy mình như thế này?"

Bảy giờ tối, bữa ăn đuợc chuẩn bị gần xong. Della hồi hộp chờ đợi, hy vọng rằng mình vẫn còn xinh đẹp trong mắt Jim. 

Thế rồi cửa mở, Jim bước vào. Anh ấy trông rất gầy và cần có một cát áo khoác mới. Jim nhìn chằm chằm vào Della. Cô không thể hiểu được anh đang nghĩ gì, cô sợ. Anh ta không giận dữ, cũng chẳng ngạc nhiên. Anh đứng đó, nhìn cô với ánh mắt kỳ lạ. Della chạy đến bên Jim òa khóc: "Ðừng nhìn em như thế, anh yêu. Em bán tóc chỉ để mua cho anh một món quà. Tóc sẽ dài ra mà. Em phải bán nó thôi, Jim à. Hãy nói "Giáng sinh vui vẻ", em có một món quà rất hay cho anh này!"

- Em đã cắt mất tóc rồi à? - Jim hỏi.

- Ðúng thế, em đã cắt và bán rồi, vì vậy mà anh không còn yêu em nữa ư? Em vẫn là em mà! - Della nói.

Jim nhìn quanh rồi hỏi lại như một kẻ ngớ ngẩn: "Em nói là em đã bán tóc à?"

- Ðúng, em đã nói vậy, vì em yêu anh! Chúng ta có thể ăn tối được chưa, Jim?

Chợt Jim vòng tay ôm lấy Della và rút từ túi áo ra một vật gì đấy đặt lên bàn. Anh nói: "Anh yêu em, Della, dù cho tóc em ngắn hay dài. Hãy mở cái này ra em, sẽ hiểu tại sao khi nãy anh sững sờ đến vậy".

Della xé bỏ lớp giấy bọc ngoài và kêu lên sung suớng, liền sau đó những giọt nước mắt hạnh phúc rơi xuống. Trong đó là một bộ kẹp tóc, những chiếc kẹp dành cho mái tóc óng ả của Della. Cô đã mơ ước có đuợc nó khi trông thấy lần đầu tiên qua cửa kính một gian hàng. Những cái kẹp rất đẹp và rất đắt tiền. Bây giờ chúng đã thuộc về cô nhưng tóc cô thì không còn đủ dài để kẹp nữa! 

Della nâng niu món quà, mắt tràn đầy hạnh phúc: "Tóc em sẽ chóng dài ra thôi Jim", nói xong cô chợt nhớ đến dây đồng hồ vàng định tặng cho Jim và chạy đi lấy. 

- Ðẹp không anh? Em đã tìm kiếm khắp nơi đấy, giờ thì anh sẽ phải thích thú nhìn ngắm nó hàng trăm lần mỗi ngày thôi. Nhanh lên, đưa nó cho em, Jim, hãy nhìn nó với sợi dây mới này.

Nhưng Jim không làm theo lời Della. Anh ngồi xuống vòng tay ra sau đầu mỉm cuời nói: "Della, hãy cất những món quà này đi. Chúng thật đáng yêu. Em biết không, anh đã bán chiếc đồng hồ để mua kẹp cho em. Giờ thì chúng ta có thể bắt đầu bữa tối được rồi em ạ".

Đã lâu rồi, có lẽ từ năm 1997, kể từ khi các Cha các Thầy Dòng dạy tôi về cách đón những mùa Noel sao cho có ý nghĩa. Và cũng từ đó, năm nào tôi cũng dành cho mình chút khoảnh khắc để "dọn dẹp" tâm hồn mình trước đêm Giáng sinh. Phủi bụi cho tâm hồn chỉ là một trong các việc đó.

Giận dữ, ghen tuông, tức tối… đều là những loại “bụi bẩn” làm hỏng căn phòng tâm hồn của bạn. Khư khư giữ rịt lấy chúng chỉ càng làm cho cuộc sống của bạn âm u hơn mà thôi. Vì sao không đứng dậy, kéo rèm, “quét” rắc rối để tâm hồn bạn rạng rỡ trong những ngày cuối năm?


Phủi bụi cho tâm hồn – Có khó không?

Câu trả lời là không khó lắm đâu. Mọi người thường có xu hướng ghi nhớ những điều xấu xí nhiều hơn là những chuyện tốt đẹp. 10 kỉ niệm vui không bằng một vết xước nhỏ trong tâm hồn. Nhưng như thế không có nghĩa là nỗi buồn có quyền được ngự trị mãi mãi trong tâm hồn bạn, tất nhiên là trừ khi bạn thật sự muốn thế. Còn nếu bạn muốn giải phóng trái tim khỏi những cái gai nhức nhối, hãy bắt đầu thu vén lại tâm hồn của mình ngay từ bây giờ.

Cũng theo tiến sĩ Luskin thì tha thứ không có nghĩa rằng bạn buộc phải quên tất cả. “Tha thứ là cảm giác yên lành trong tâm hồn” – ông nói. Nếu bạn cứ nghĩ mình là nạn nhân, phải chịu đựng những bất công xấu xí, bạn có thể để tuột mất những cơ hội khác tươi đẹp hơn. Đó là chưa kể những phút bực dọc sẽ khiến bạn có những hành động chẳng mấy hay ho.

Tha thứ – Vì chính bản thân bạn

Nếu bạn thật sự yêu thương bản thân, hãy để cho những hờn giận, ghen ghét, đố kị… trôi khỏi bộ nhớ của mình. Não rất nhỏ. Tâm hồn cũng rất mỏng. Đừng bắt chúng phải chịu đựng nỗi đau lặp đi lặp lại. Khi bạn kể lể chuyện không vui cho một người nào đó, bạn buộc phải lặp lại tất cả từ đầu. Và vì mọi người đều có xu hướng lôi kéo sự ủng hộ về phía mình nên bạn sẽ phải kể thật chi tiết và chỉ cho ra điểm xấu xí của đối phương. Bạn sẽ thấy cáu giận hết lần này đến lần khác. Khi bạn cáu, não sẽ tự động sản xuất ra dịch tố tạo thêm buồn phiền căng thẳng.

Bạn đang tự chào đón căng thẳng đến với mình.

Cảm giác tha thứ cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của mỗi người. Cụ thể là những vấn đề về tim mạch, tiêu hóa và suy nhược cơ thể. Một cuộc nghiên cứu được tiến hành thế này. Các nhà khoa học chia đối tượng tham gia làm hai nhóm.

Nhóm đầu tiên là những người lạc quan. Họ cho rằng cuộc sống rất đáng quý nên dẹp bỏ những cơn giận sang một bên để tận hưởng từng giây phút hạnh phúc. Nhóm thứ hai thì ngược lại. Trong mắt họ, những kinh nghiệm đau thương như một bức tường vô hình khiến họ lúc nào cũng thận trọng.

Kết quả cho thấy nhóm thứ nhất có sức khỏe tốt hơn và cũng yêu đời hơn. Nhóm thứ hai có chiều hướng dễ căng thẳng và thường xuyên xuất hiện những dấu hiệu xấu của sức khỏe.

Để mỗi ngày là một ngày vui

Sẽ không có bất cứ một chuẩn mực nào của sự tha thứ. Cũng chẳng ai có thể bắt bạn phải quên đi chuyện A, phải làm chuyện B… dù điều đó rõ ràng là rất tốt cho bạn. Nhưng nếu bạn thật sự quan tâm đến chính mình, hãy tự tha thứ cho bản thân trước rồi bỏ qua những rắc rối (dù có thể chúng to đùng như một con ma mút vậy). Quá khứ đã qua. Hiện tại và tượng lai mới là quan trọng. Và vì tha thứ là cảm giác yên bình. Tìm được sự bình yên trong tâm hồn, cuộc sống sẽ dịu dàng hơn rất nhiều…


Hôm nay chợt thấy lòng sao bình yên quá. Muốn đi tìm một giai điệu nào đó để tưởng thưởng cho thời gian qua nhọc nhằn trên những dặm trường. Và ta lại bắt gặp những giai điệu tuyệt vời. Không quá ồn ào mà ngược lại, những giai điệu mượt mà, nhẹ nhàng và sâu lắng. Tuy chưa thật hiểu hết các khúc ca, nhưng ta phần nào cảm thấy thỏa mãn với chiếc ghế đong đưa, đưa hồn ta phiêu bồng cùng những cơn gió se lạnh của ngày đông.

Gió vẫn cứ thổi, cây vẫn nhè nhẹ đu đưa theo những làn gió thổi qua. Đâu đó những chiếc lá khẽ rung làm rơi những giọt nước trong lành sau cơn mưa chiều. Ta ngồi đây, lại tiếp tục với những dòng miên man cùng những trải nghiệm không mới nhưng đáng để nhìn lại. Thấy mình làm cũng được nhiều việc, cũng có ích với một ai đó và không phí hoài thời gian mà cuộc đời ban tặng,

Ta chợt nghĩ về cái tuổi 30 vừa sang. 30 rồi, sao mà nhanh thế. khi ta 20 tuổi, ta nghĩ ta đã đi được 1/3 quãng đời. Ấy thế 10 năm sau, có vẻ như tệ hơn khi thấy nửa đời đã qua đi quá nhanh. Nhanh đến nỗi ta ngoảnh lại và thấy chưa làm được cái gì đáng để gọi là thành tựu. Có chăng, chỉ là vài việc vụn vặt đang manh mún cho những dự định lâu dài hơn. 

Ta lại nghĩ về người con gái ta mới quen gần đây. Ta hờn, ta trách sao ông trời xếp đặt cho ta gặp người như vậy trễ quá. Khi mà tuổi xuân với bao nông nổi nay đã xa vời. Có lẽ sớm hơn ta có thể yêu em với nhiều tình cảm và sự quan tâm. Dẫu sao, ta cũng không oán trách định mệnh, mà thấy vui vì ít ra những tháng ngày còn lại có một người bạn tri kỉ chia sẻ buồn vui.

Làm thế nào để dừng lại những dòng xúc cảm khi lòng ta chẳng hề muốn. Làm sao thôi yêu đương khi lúc nào ta cũng nghĩ đến em. Phải làm thế nào để xóa nhòa những buồn phiền, chán nản khi mỗi ngày cứ phải làm đi làm lại một điều gì đó bản thân ta chẳng thể nào dứt bỏ. ... Có quá nhiều điều ta cần buông lơi cho đời thảnh thơi đi một chút.

Cảm ơn những bản tình ca vô tình đưa ta chu du những miền xúc cảm. Cảm ơn những giai điệu nhẹ nhàng dịu êm khiến hồn ta tìm lại chút an bình giữa dòng đời xuôi ngược. Ta cũng cảm ơn những giọng ca đậm chất phong trần càng làm những trải nghiệm ta qua càng thêm thấm thía. Tất cả, ta muốn cảm ơn cuộc đời đã cho ta chút chất xám đủ để trải lòng mình cùng những ngôn từ bấy lâu ta ấp ủ. Ta cũng cám ơn những người bạn vẫn âm thầm lặng lẽ ủng hộ ta qua 3 mùa Giáng sinh qua. 

Xin tri ân tất cả, ta lại dọn lòng mình đón một mùa Noel 2014 trong yêu thương và ấm áp của tình bằng hữu. 

Có một người đàn ông bị tai nạn giao thông. Vụ tai nạn quá khủng khiếp đã làm ông mất cả hai chân và cánh tay trái. Thậm chí bàn tay phải của ông cũng chỉ còn ngón cái và ngón trỏ. Nhưng ông vẫn còn sở hữu một trí não minh mẫn và một tâm hồn rộng mở.

Suốt những ngày nằm viện, ông rất cô đơn vì ông không còn người thân hay họ hàng. Không ai đến thăm. Không điện thoại, không thư từ. Ông như bị tách khỏi thế giới.


Rồi vượt qua thất vọng, ông nảy ra một ý định: Nếu ông đã mong nhận được một lá thư đến thế, và một lá thư có thể đem lại niềm vui đến thế thì tại sao ông lại không viết những lá thư để đem lại niềm vui cho người khác? Ông vẫn có thể viết bằng hai ngón tay của bàn tay phải dù rất khó khăn. Nhưng ông biết viết thư cho ai bây giờ? Có ai đang rất mong nhận được thư và ai có thể được động viên bởi những lá thư của ông? Ông nghĩ tới những tù nhân. Họ cũng cô đơn và cần sự giúp đỡ.

Đầu tiên, ông viết thư tới một tổ chức xã hội, đề nghị chuyển những lá thư của ông vào trong tù. Họ trả lời rằng những lá thư của ông sẽ không được trả lời đâu, vì theo điều luật của bang, tù nhân không được viết thư gửi ra ngoài. Nhưng ông vẫn quyết định thực hiện việc giao tiếp một chiều này.

Ông viết mỗi tuần hai lá thư. Việc này lấy của ông rất nhiều sức khỏe, nhưng ông đặt cả tâm hồn ông vào những lá thư, tất cả kinh nghiệm của cuộc sống, cả niềm tin và hy vọng. Rất nhiều lần ông muốn ngừng viết, vì không bao giờ ông biết những lá thư của ông có ích cho ai hay không. Nhưng vì việc viết thư đã thành thói quen nên ông vẫn tiếp tục viết.

Rồi đến một ngày kia ông, cuối cùng ông cũng nhận được một bức thư. Thư được viết bằng loại giấy nhà tù, do chính người quản giáo viết. Bức thư viết rất ngắn, chính xác là chỉ có vài dòng như sau:
“Xin ông hãy viết thư trên loại giấy tốt nhất ông có thể có được. Vì những lá thư của ông được chuyền từ phòng giam này sang phòng giam khác, từ tay tù nhân này sang tù nhân khác đến mức giấy đã bị rách cả. Xin cảm ơn ông.”
Hãy đối xử với mọi người như những gì bạn muốn họ đối xử với bạn. Chỉ cần bạn cho đi, những điều tuyệt vời ắt sẽ đến.

Như tiêu đề, từ nay đến 15/12/2014, Ali sẽ tiến hành trang trí cho M21love để cùng hòa vào không khí đón Noel như mọi năm. 

Trong quá trình trang trí, nếu có điều gì làm bất tiện, M21love rất lấy làm tiếc và mong bạn đọc thông cảm.


Có một vị hiền triết đã hỏi các đệ tử rằng:
– “Tại sao trong cơn giận dữ người ta thường phải thét thật to vào mặt nhau?”

Sau một lúc suy nghĩ, một trong những đệ tử ấy đã trả lời:
– “Bởi vì người ta mất bình tĩnh, mất tự chủ!”


Vị hiền triết không đồng ý với câu trả lời, ngài bảo:
– “Nhưng tại sao phải hét lên trong khi cả hai đang ở cạnh nhau, tại sao không thể nói với một âm thanh vừa phải đủ nghe?”

Các đệ tử lại phải ngẫm nghĩ để trả lời nhưng không có câu giải thích nào khiến vị thầy của họ hài lòng. Sau cùng ông bảo:

- “Khi hai người đang giận nhau thì trái tim của họ đã không còn ở gần nhau nữa. Từ trong thâm tâm họ cảm thấy giữa họ và người kia có một khoảng cách rất xa, nên muốn nói cho nhau nghe thì họ phải dùng hết sức bình sinh để nói thật to. Sự giận dữ càng lớn thì khoảng cách càng xa, họ càng phải nói to hơn để tiếng nói của họ bao trùm khoảng cách ấy.”

Ngưng một chút, ngài lại hỏi:
– “Còn khi hai người bắt đầu yêu nhau thì thế nào? Họ không bao giờ hét to mà chỉ nói nhỏ nhẹ, tại sao? Bởi vì trái tim của họ cận kề nhau. Khoảng cách giữa họ rất nhỏ…”

… Rồi ngài lại tiếp tục:
– “Khi hai người ấy đã yêu nhau thật đậm đà thì họ không nói nữa, Họ chỉ thì thầm, họ đã đến rất gần nhau bằng tình yêu của họ. Cuối cùng ngay cả thì thầm cũng không cần thiết nữa, họ chỉ cần đưa mắt nhìn nhau, thế thôi! Vì qua ánh mắt đó họ đã biết đối phương nghĩ gì, muốn gì..”
Ngài kết luận:
– “Khi các con bàn cãi với nhau về một vấn đề, phải giữ trái tim của các con lúc nào cũng cận kề. Đừng bao giờ thốt ra điều gì khiến các con cảm thấy xa cách nhau… Nếu không thì có một ngày khoảng cách ấy càng lúc càng rộng, càng xa thì các con sẽ không còn tìm ra được đường quay trở về !”


Lâu lâu nghe lại vẫn tìm được chút dư âm của thời "trẻ trâu". Cái thời mà Đi về nơi xa, Kiếp Ve sầu,... làm mưa làm gió trên Top ten Làn Sóng Xanh. Và cũng từ ấy, âm nhạc Việt có thể loại nhạc mới - Nhạc trẻ, Nhạc thị trường... Tên gọi nào thì còn tùy người, còn tôi, đó là chút gì của thời trai trẻ khi mới tập tễnh những bước vào đời. 

16 năm trước khi nghe những bài hát này thì còn vu vơ tung tăng hát vang, cố gắng vặn càng to càng tốt cho vui cửa vui nhà. Bè bạn hát, ta cũng hát, khen hay ta cũng ừ hứ. 

16 năm sau ta lại nghe, nhưng chỉ là phút chốc nhắc nhớ cái tuổi mới lớn đầy mơ mộng. Nghe và nhìn lại cùng những thăng trầm bao năm qua nếm trải. Lần nay nghe thấm hơn, ngẫm ra được nhiều hơn và chợt mỉm cười cái sự đời chông chênh và lắm trớ trêu.



Ca khúc: Khi em già rồi - 当你老了
Ca sỹ: Triệu Chiếu - 赵照
Lời :Diệp Chi -叶芝 Triệu Chiếu - 赵照
Nhạc: Triệu Chiếu - 赵照
Trans: Panda Ú
Time+Encode: Thiên Nguyệt Phong 

Có nhiều cách để ca từ một bài hát đi vào trái tim mỗi người. Khi mẹ già rồi là một ca khúc như thế. Nhẹ nhàng sâu lắng tựa như những giọt sương mai khẽ rơi qua kẽ lá. Mộc mạc và đẹp đẽ, Dịu dàng như bàn tay khẽ vuốt ve mái tóc của người mẹ đang âu yếm nhìn con mình khôn lớn. 

Tôi nhớ đã hơn một lần viết những xúc cảm của về một bài hát nào đó, nhưng mỗi bài lại mang những sắc thái riêng khiến trái tim tôi không ngừng xao động. Lắng lòng mà nghe, mà cảm mỗi ca từ của tác giả dành tặng cho người mẹ đáng kính của mẹ. Lời ấy chắc hẳn không phải chỉ mỗi tác giả, mà sau khi ca khúc trình diễn, thì đó là lời của hàng triệu người con dành cho những người mẹ của mình.


Thật may mắn khi ta gặp một bản tình ca đẹp với giai điệu đẹp du dương đưa tâm hồn lắng lại giữa dòng đời xuôi ngược. Ta chợt tìm lại những ký ức về người mẹ đã lâu rồi không một lời hỏi han, hay một cuộc điện thoại chỉ để nói vài lời "con nhớ mẹ".

Thời gian và tuổi tác đã lấy đi nhiều thứ, trong đó có sự thanh xuân của những người mẹ. Rèm mi dần khép, những nếp nhăn không hẹn cũng nổi lên như vết sẹo của thời gian. Mái tóc chẳng còn đen óng, suông mượt và thơm đẫm mùi hương, thay vào đó, những sợi trắng pha lẫn trong đám tóc đen càng thể hiện vẻ yếu nhược ngày qua ngày nơi thềm nắng những ngày thu. 

Bài ca của mẹ thì bài nào cũng đẹp. Những bài ca của những người con viết cho mẹ, viết về mẹ lại muôn màu muôn vẻ. Khi mẹ già rồi - tuy không dài, không có nhiều ca từ nhưng đủ để người nghe tĩnh lòng mà cảm. Phải, đó là bài ca trong trái tim tôi - Bài ca dành tặng cho mẹ.


Khi nhắc đến các triết gia bàn về con người, nhân vật đầu tiên mà tôi nghĩ tới là Socrates. Khi bàn về triết lý của họ, câu châm ngôn mà tôi tâm đắc nhất là “Hãy nhận thức chính mình”. Vâng, Socrates là ai? Câu châm ngôn này xuất phát từ đâu và nó có liên hệ gì với Socrates? Và đặc biệt là làm thế nào để nhận thức được chính mình. Để làm rõ vấn đề này, theo tôi nghĩ, trước hết chúng ta cùng điểm qua một vài nét về Socrates và nguồn gốc của câu châm ngôn. Kế đến chúng ta sẽ cùng nghiên cứu xem làm sao để nhận thức được chính. Cuối cùng chúng ta sẽ nêu lên một vài phản tỉnh và kết luận về vấn đề này.II. Socrates và nguồn gốc của câu châm ngôn

Socrates là ai?

 Socrates (470-339 TCN) là một triết gia Hy Lạp cổ đại. Ông sinh ra tại Athens, trong một gia đình nghèo. Cha là Sophronisque làm nghề gốm, mẹ là Phaenarete, một bà đỡ (nữ hộ sinh). Nghề của mẹ (và chắc cũng của cha nữa) thường được ví với phong cách sống của ông: làm người “đỡ đẻ” và hun đúc cho việc đi tìm chân lý.[1] Socrates nổi tiếng là học vấn uyên bác và đã từng là một chiến binh dũng cảm, nhưng về sau ông thấy công việc “hộ sinh tinh thần” mới thực là sứ mệnh đáng cho ông dâng hiến trọn đời.[2]  


Sinh thời, Socrates được coi là một nhà hiền triết, một công dân mẫu mực của thành Athens. Ông không mở trường lớp. Trường của ông là nơi công cộng, tại các chợ ngày xưa. Ông nói chuyện với mọi người, bàn về những việc hàng ngày. Theo Plato kể lại, Socrates đã nói là ông có sứ mệnh của thần linh là dạy dỗ người cùng thời và không được làm nghề gì khác, nên ông chấp nhận sống nghèo, giảng dạy không công cho mọi người.[3]Ông là nhà tư tưởng làm cầu nối giữa giai đoạn bóng tối và ánh sáng của nền triết học Hy Lạp. Bên cạnh đó, ông còn được nhìn nhận là người đặt nền móng cho thuật hùng biện dựa trên hệ thống những câu hỏi đối thoại.[4] Ông có tư tưởng tiến bộ, nổi tiếng về đức hạnh với các quan điểm: “Hãy nhận thức chính mình”, “Tôi chỉ biết mỗi một điều duy nhất là tôi không biết gì cả”, và “Cuộc sống mà không suy xét thì không đáng sống”.
Tới 50 tuổi Socrates mới lập gia đình. Vợ ông là bà Xanthippe, một cô gái trẻ hơn ông rất nhiều. Bà sinh cho ông ba người con trai Lamprocles, Sophroniscus và Menexenus. Bà vợ của ông nổi danh với hình ảnh một bà vợ hung dữ, khó tính. Không phải không có lỗi của ông: chẳng mang được đồng xu nào về nhà! Khác với những biện sĩ đương thời bán trí khôn kiếm tiền, ông dứt khoát dạy miễn phí. Không rõ bà vợ thường tranh cãi có phải vì ông cương quyết không chịu… thương mại hoá giáo dục hay không, nhưng “chân lý” sáng giá được ông khám phá là: “Nên lấy vợ! Gặp vợ hiền, bạn được hạnh phúc; gặp vợ dữ, bạn thành… triết gia; đàng nào cũng có lợi!”[5]

Với tính tình ngay thẳng, chỉ thích sự thật, ông bị nhà cầm quyền lúc bấy giờ ghét bỏ. Và điều không mong đợi đã thực sự đến với Socrates, vào năm 399 (TCN) ông bị họ tố cáo về các tội “dụ dỗ thanh niên”, “báng bổ thánh thần” và “cải cách tôn giáo”. Hình phạt là bắt ông uống thuốc độc tự tử.[6]

Ai là tác giả của câu châm ngôn?

Có một số ý kiến cho rằng đây là câu châm ngôn của Socrates, để biết rõ thực hư của vấn đề này chúng ta sẽ đi tìm lại nguồn gốc của nó. Theo truyền thuyết Hy Lạp, câu châm ngôn “Hãy nhận thức chính mình”– “Gnothi seauton” được ghi tại đền Apollo ở Delphes. Tác giả của câu châm ngôn này là Solon (638-558 TCN) quê ở Mytilene – một trong bảy nhà thông thái của Hy Lạp cổ đại.[7] Đền Apollo là nơi có uy quyền rất lớn đối với mọi người dân Hy Lạp.Vậy thì câu châm ngôn này có liên hệ gì với Socrates? Theo Aristoteles kể lại, ngay từ khi còn nhỏ, Socrates đã thường đến viếng thăm đền Apollo ở Delphes. Khi đó, văn bia “Hãy nhận thức chính mình”đã thu hút sự quan tâm và xâm chiếm tâm trí ông. Về sau, chính châm ngôn này đã trở thành đòn bẩy cho hoạt động triết học và định hướng tìm kiếm chân lý của ông. Socrates lĩnh hội châm ngôn này như lời kêu gọi về nhận thức, đồng thời làm sáng tỏ giới hạn nhận thức của con người so với sự thông thái của thần linh.[8]

Triết lý của Socrates[9]

Như chúng ta đã biết, trước Socrate, các triết gia Hy lạp cổ đại chỉ nghiên cứu những vấn nạn về nguồn gốc của vũ trụ, nguyên lý phát sinh hiện hữu. Họ mặc nhiên nhìn nhận sự hiện hữu của vũ trụ này: cái gì có là có, cái không không thể sản sinh ra cái có và cái có không thể giản trừ cái không. Cái có được vận hành từ một Uyên Nguyên nào đó. Cụ thể, đối với Thales, nước là nguyên lý phát sinh mọi sự và hồn là nguyên lý của sự sống vận hành. Còn đối với Anaximander, bất định (apeiron) là nguyên sơ chất thể là nguyên lý thần linh và là nguyên sinh vạn vật. Tuy nhiên, đối với Anaximenes, khí (pneuma) phát sinh mọi sự, khí bao bọc nuôi dưỡng mọi sự, khí còn mang chiều kích siêu việt. Trái lại, Heraclitus coi lửa (pyr) là nguyên tiêu phát sinh vạn vật. Hơn nữa ông còn xem Logos là lý tính vừa nhân bản vừa siêu việt. Kế đến, đối với Pythagoras, con số là nguyên cội mọi sự.[10] Nói tóm lại, các triết gia trước Socrates chưa có một nghiên cứu cụ thể nào liên quan đến đạo đức giúp con người nhận thức chính mình.

Còn đối với Socrates thì sao? Socrateslà một trong những tư tưởng gia Hy Lạp cổ đại đầu tiên kêu gọi giới học giả và các nhà lãnh đạo quốc gia đương thời, những người quá chú tâm đến các công trình nghiên cứu thế giới tự nhiên, nên quan tâm nhiều hơn đến bản chất của con người. Ông xem con người là một con vật có lý trí, xã hội tính, có xác và hồn là một tổng thể thống nhất, ông tin có thượng đế là thần minh thấu suốt những điều tốt điều xấu và vì thế ông là người đầu tiên đề ra chuẩn mực đạo đức cho triết học về con người. Và đặc biệt ông tin có sự sống đời sau khi ông nói về sự bất tử của linh hồn.

Đối với Socrates, con người là đối tượng đáng được quan tâm hơn cả và bất cứ điều gì ảnh hưởng đến con người đều có tầm quan trọng quyết định. Tri thức về thế giới tự nhiên bên ngoài (vũ trụ học-cosmology), nếu không có ý nghĩa thiết thực đối với cuộc sống con người, chỉ có tầm quan trọng thứ yếu. Mọi tri thức có liên quan đến bản chất và cuộc sống của con người đều đáng được sở hữu và cần phải được tích luỹ. Hơn nữa, theo cách nói của Socrates, “cuộc sống vô minh (the unexamined life) thì không đáng để sống.”

Tự biết mình

Tự biết mình, hoàn toàn biết rõ bản chất ý thức lẫn vô thức của chính mình, là động cơ tạo nên năng lực, sự tiết độ và thành đạt. Các cá nhân gặp phải khó khăn trong đời phần lớn bởi vì họ không thực sự hiểu biết được sự hiểu được bản chất, khả năng, giới hạn, động cơ-toàn bộ cung bậc tính cách của chính họ. Thực chất, họ cần đến một tấm gương “tâm lý” có khả năng giúp họ nhận ra bản ngã của chính mình, bao gồm toàn bộ ưu khuyết điểm và tiềm năng thực tế của họ.

Một người thực sự tự biết mình sẽ đạt được thành công trong cuộc sống, bởi lẽ anh ta biết chính xác những gì nằm trong khả năng của mình cũng như cách thức vận dụng chúng. Ngược lại, một người không tự biết mình sẽ tiếp tục vấp ngã, thậm chí đi đến những huỷ hoại cả cuộc đời.

Hầu hết mọi người đều cho rằng tự biết rõ chính mình, rằng “không ai gần gũi ta hơn chính bản thân bản thân ta.” Tuy nhiên, tự tin không có nghĩa là tự biết mình. Thực ra, một người khôn ngoan và từng trải có thể “biết ” về bạn nhiều hơn chính bạn đấy! Socrates đã đặt ra câu hỏi: “ Phải chăng bạn cho rằng bạn tự biết mình, đơn giản chỉ vì bạn sở hữu cái tên của mình?”. Ông cũng chỉ ra rằng, nếu chỉ muốn biết về con ngựa, chúng ta phải nắm được tuổi đời , sức vóc và tình trạng sức khoẻ của nó, từ đó mới có thể xác định được mức độ nhanh nhẹn và khả năng làm việc của nó. Nguyên lý này cũng áp dụng đúng với con người để hiểu chính mình, con người trên cõi đời. Quá trình tìm hiểu bản thân đòi hỏi không ít nỗ lực. Nói cho cùng, tự biết mình là một lẽ thiện trong đời.

Theo Socrates, con đường tự nhận thức sẽ đưa con người đến sự nhận biết địa vị của mình trong thế giới, làm sáng tỏ mình là gì với tư cách con người. Rằng, con người cần phải thấy rằng, nhờ có tri thức mà con người có được nhiều điều tốt đẹp và do có những quan niệm sai lầm mà con người phải nếm trải nhiều thứ xấu xa. Khi tự hiểu biết mình, con người cũng hiểu biết cái gì là tốt đẹp đối với nó và phân biệt được cái gì có thể làm và cái gì không nên làm.

Đề cao lý tính và thừa nhận sức mạnh toàn năng của nó, Socrates buộc mọi sự kiện diễn ra trong vũ trụ và trái đất phải phục tùng nó. Tri thức, trong sự lý giải của Socrates, thể hiện ra với tư cách cái điều tiết cần thiết duy nhất và là tiêu chí đáng tin cậy về lối ứng xử của con người. Qua đó, ông đã đem lại một cách hiểu mới, một sức sống mới cho câu châm ngôn “Hãy nhận thức chính mình”. Đây cũng chính là xuất phát điểm để Socrates xây dựng triết học con người của ông.

Đức hạnh là tri thức

Đối với Socrates, bất cứ ai biết điều gì là đúng đắn tất sẽ thực hiện điều đó. Hành vi sai trái chỉ xuất phát từ sự vô minh. Một người có hành động không đúng bởi vì, và chỉ vì, anh ta không biết cái gì là đúng đắn. Không có một người tỉnh táo và lành mạnh nào lại chủ tâm làm tổn hại bản thân mình. Nếu anh ta thực sự làm một điều như vậy, đơn giản chỉ vì phạm phải sai lầm nào đó trong quá trình hành động, hoàn toàn không phải do cố ý. Không ai chủ định chọn lựa điều sai trái, bởi lẽ hành vị tội lỗi luôn mang đến tai hoạ cho bản thân họ và người khác.

Nếu thấu hiểu hậu quả thực sự của trộm cắp, dối trá, lừa đảo, thù hằn và các hành vi tội lỗi khác; nếu biết được chúng sẽ gây tổn hại như thế nào cho bản thân họ, chẳng hạn như sự sa đoạ về mặt tinh thần và sự thoái hoá về mặt nhân cách, chắc chắn con người sẽ tự giác né tránh chúng. Thiếu nhận thức đúng đắn chính là lý do duy nhất khiến một số người không thể kiềm chế được chính mình trước những cám dỗ tội lỗi; bởi lẽ bất cứ người nào biết điều gì là đúng đắn tất sẽ thực hiện điều đó.

Đức hạnh là hạnh phúc

Theo Socrates, đức hạnh không chỉ là tri thức, bản thân nó cũng đồng nghĩa với hạnh phúc. Bởi lẽ, hành vi đạo đức cũng chính là hành vi mang đến những điều tốt đẹp cho người thực hiện nó. Hạnh phúc kết thành quả từ đó.

Làm sao để nhận thức chính mình?

Theo quan điểm của Socrates
Socrates đã nghiên cứu nhiều lĩnh vực tri thức khác nhau, như nhận thức, chính trị, giáo dục học, nhưng ông tập trung nhất vào đạo đức học. Ông đặt ra nhiệm vụ cho triết học là phải dạy người ta sống một cuộc sống lương thiện. Muốn thế, phải biết chuẩn mực đạo đức chung, phải quan tâm tới phúc lợi chung, Socrates quan niệm đạo đức và tri thức là một, và nguồn gốc của nhận thức là tự nhận thức. Ông quan niệm tự nhận thức bắt đầu từ chỗ con người nghi ngờ chính hiểu biết của bản thân. Vì vậy, nhà triết học lừng danh ấy đã đưa ra châm ngôn: “tôi chỉ biết một điều là chẳng biết gì cả”. Tư tưởng này ta cũng gặp trong triết học cổ ở Phương Đông: biết rằng không biết mới thực là biết. Cái “chẳng biết gì” của Socrates lại là nguồn gốc của cái biết. Vì biết về điều mình không biết, là tiền đề của tri thức: cái dốt nát được ta nhận thức sẽ kích thích tìm tòi, suy nghĩ, nghiên cứu, học hỏi…và tìm ra tri thức. Nói cách khác, cái dốt được nhận thức là động lực đi tìm tri thức.

Socrates đã làm gì để giúp ông cũng như người khác nhận thức chính mình? Trước hết ông dùng phương pháp đối thoại, trò chuyện tay đôi bằng cách đặt câu hỏi, hai người tranh luận với nhau tìm ra chân lý. Ông thường chuẩn bị trước một số câu hỏi được lựa chọn theo một cách thức nhất định tùy người và tùy hoàn cảnh để cho người đối thoại phát hiện ra cái mình chưa biết, và sau đó đi đến những hiểu biết nhất định, để cuối cùng có một quan niệm về cuộc sống chân thiện mỹ. Đồng thời với các câu hỏi ông cũng đưa ra các sự kiện để dẫn dắt người bạn đàm thoại tới một khái niệm cụ thể. Cuối cùng ông giúp người ta chia các khái niệm đó thành loại và nhóm… Nói tóm lại, qua việc đối thoại Socrates muốn giúp cho ông cũng như người đối thoại tìm ra chân lý hay nói đúng hơn là đi từ hiểu biết mơ hồ đến một nhận thức rõ ràng về các khái niệm thường ngày như: công bằng, bất công, thiện và ác, cái đẹp và dũng cảm. Và mục đích sâu xa hơn là ông muốn cho chính bản thân cũng như người đối thoại nhận thức sâu xa hơn về chính mình.

Các quan điểm khác

Nhận thức chính mình là làm sao để biết rõ bản chất ý thức lẫn vô thức của chính mình, là động cơ tạo nên năng lực, sự tiết độ, thành công và hạnh phúc cho cuộc sống của chúng ta. Một người thực sự tự biết mình sẽ đạt được thành công trong cuộc sống, bởi lẽ anh ta biết chính xác những gì nằm trong khả năng của mình cũng như tìm ra cách thức vận dụng chúng. Ngược lại, một người không tự biết mình sẽ tiếp tục vấp ngã, thậm chí đi đến huỷ hoại cả cuộc đời.

Sự tự nhận thức giúp chúng ta biết được cái gì thúc đẩy mình và mình say mê cái gì. Điều này hướng chúng ta đến những công việc yêu thích, khiến chúng ta làm việc vui vẻ, hiệu quả. Nó dẫn tới những mối tương quan, cả trong công việc lẫn tương quan cá nhân, ở đó chúng ta sẽ đóng góp có tính xây dựng và tích cực hơn. Và nó cũng dẫn đến cuộc sống chân thật hơn cũng như làm cho chúng ta hài lòng hơn.

Biết về chính mình tức là biết về con người, nghĩa là biết vể đời sống và ý nghĩa của nó. Binh pháp Tôn gia nói: “Biết mình biết người, trăm trận trăm thắng.” Nhưng nếu ta thực sự biết rõ về ta, thì có lẽ là ta cũng đã biết gần hết về người rồi, vì người với ta có lẽ giống nhau khoảng 90 phần trăm và chỉ 10 phần trăm là khác nhau.

Nhưng biết mình không phải là việc dễ. Benjamin Franklin viết: “Có ba điều cứng và khó uốn nhất—sắt, kim cương, và biết chính mình.” Đôi khi ta có cảm tưởng là ta biết rất rõ về chính mình. Tuy nhiên, “biết” có nghĩa là kiểm soát được. Nếu ta biết giờ nào kẻ trộm đến, đương nhiên là ta không thể bị trộm. Nhưng đã bao nhiêu lần người khác nói một câu hơi “sốc” thôi là ta đã bốc lửa hừng hực đầy căm phẫn, thay vì suy nghĩ “có nên nổi giận không?” Đã bao nhiêu lần ta biết là nên làm hòa với hắn, nhưng hễ thấy mặt hắn thì ta lại chỉ muốn tát cho hắn một cái, thế là ta lại bước sang hướng khác? Đã bao nhiêu lần ta biết khoe khoang là không hay, nhưng vẫn tiếp tục khoe khoang?

Biết được chính mình tức là biết được tất cả những thói quen, những điều đã trở thành vô thức đang xảy ra trong mình, đang hành động trong mình, và tìm cách đưa nó lên ý thức để điều khiển chúng, không để cho chúng điều khiển mình. Biết mình tức là làm chủ được chính mình.

Nhưng làm thế nào để biết mình? Ngày nay một số người khi gặp phải khó khăn trong đời phần lớn bởi vì họ không thực sự hiểu biết được bản chất, khả năng, giới hạn về chính mình. Vì thế, họ cần đến một nhà “tâm lý” có khả năng giúp họ nhận ra bản ngã, những ưu khuyết điểm và tiềm năng thực tế của họ.

Cách tự nhiên là mình phải lặng yên để quan sát mình. Muốn biết về con ve, cái kiến, hay bất cứ điều gì đó, thì chỉ có cách là quan sát thật kỹ thôi. Muốn biết về chính mình cũng thế, ta cứ phải quan sát chính mình. Và nếu không thể vừa quan sát con kiến vừa nhảy rock and roll, thì ta cũng chỉ có thể quan sát chính mình trong yên lặng. Yên lặng là điều kiện cần thiết để quan sát. Và bởi vì yên lặng quá hiếm hoi trong thời đại chạy đua ồn ào của chúng ta, quan sát chính mình trở nên quá khó khăn , vì vậy nhiều người không có cơ hội thấy được mình một cách rõ ràng. Đây là điều mà nhà Phật gọi là vô minh, và môt số triết gia và xã hội học gia tây phương gọi là “vong thân” (alienation).

Đối với thánh I-nhã, phương pháp đơn giản để biết mình là nhận định (discernment). Mỗi ngày ngài dành ra hai lần, 15 phút vào buổi trưa và 15 phút buổi tối trước khi đi ngủ để nhìn lại ngày sống, hay còn gọi là xét mình. Xét mình ở đây không chỉ là xét lỗi lầm mình phạm trong ngày, nhưng còn là xét xem những thành công và những thất bại trong ngày sống đó, nguyên nhân từ đâu? Rồi tìm cách để khắc phục và thực hiện tốt hơn cho ngày tới.

Phản tỉnh và kết luận

Sự thâm nhập của Socrates vào thực chất những vấn đề của con người đã thôi thúc ông không ngừng tìm kiếm con đường nhận thức mới, chân thực. Sự quan tâm triết học của Socrates đến vấn đề về con người và nhận thức của con người, đã đánh dấu bước chuyển của ông từ triết học tự nhiên sang triết học con người. Điều này được thể hiện ở chỗ, con người và vị trí của nó trong thế giới đã trở thành vấn đề trung tâm của triết học Socrates và là đề tài chủ yếu trong mọi cuộc đối thoại của ông.Có thể nói Socrates là người khơi nguồn cho nền triết học về con người, bằng việc kêu gọi mọi người trước hết hãy nhận thức chính mình. Chính khi biết mình con người mới có thể định hướng được cuộc sống mình đang sống.

Con người thể kỷ XX nhìn nhận về Socrates như thế nào? Theo cuốn “On Socrates” ghi lại rằng con người ngày nay coi Socrates là một nhà hiền triết, một vị tử đạo và là một trong những triết gia đạo đức quan trọng trong lịch sử. Tên của ông được gán cho nhiều trường đại học và thư viện trên toàn thế giới. Đặc biệt “Socratic method” đã trở nên phương pháp giáo dục hữu hiệu trong thế giới hôm nay. Chúng ta phải ca ngợi Socrates vì hai lý do. Thứ nhất là thái độ không ngừng tìm kiếm chân lý của ông. Thứ hai là về niềm tin tưởng vào lý trí và suy nghĩ của con người, cũng như tin rằng họ có thể sống tốt và hạnh phúc hơn nhờ sự tra vấn và kiểm thảo đời sống cách hợp lý.[11]

Sống trong xã hội xưa cũng như nay, đạo cũng như đời, biết mình hay nhận thức chính mình là một điều hết sức vô cùng quan trọng. Nó giúp ta biết rõ mình là ai? Tôi sinh ra để làm gì? Và tôi phải sống như thế nào? Càng hiểu rõ bản thân, chúng ta càng có thể kiểm soát và lựa chọn hành vi muốn biểu hiện. Sự tự nhận thức giúp chúng ta hiểu mình đang ở đâu, muốn đi đâu để sẵn sàng thay đổi nhằm đến được nơi cần đến. Không có sự tự nhận thức, các cảm xúc có thể che mắt chúng ta, khiến ta trở thành người mà mình không muốn. Nếu hiểu cảm xúc và suy nghĩ của mình, chúng ta có thể lựa chọn thích hợp cách hành động hoặc phản ứng trong một tình huống nào đó hoặc với một người nào đó. Sự lựa chọn này trở thành sức mạnh, một sức mạnh nội tại không ai có thể lấy đi. Vì vậy “hãy nhận thức chình mình” là thế đó.

Tác giả Anthony Lợi

Tài liệu tham khảo

1.      Wadsworth, On Socrates, Belmont, CA, 2000
2.      Plato, Phaedo, tập 2, Nxb Tư tưởng, Mátxcơva, 1970, (ThS: Nguyễn Thị Vui, chuyển dịch)
3.      Plato, Apology of Socrates, Nguyễn Văn Khoa dịch, NXB Tri Thức, 2006.
4.      Lê Tôn Nghiêm, Lịch sử triết học Tây Phương, Tập II: Thời kỳ thượng cổ, NXB TPHCM, 2000.
5.      Vlastos, Gregory (1991). Socrates, Ironist and Moral Philosopher. Ithaca: Cornell University Press.
6.      Taylor, C.C.W. (2001). Socrates: A very short introduction. Oxford: Oxford University Press.
7.      Samuel Enoch Stumpf, Lịch sử triết học và các luận đề, Đỗ Văn Thuấn & Lưu Văn Hy (chuyển ngữ), NXB Lao Động, Hà Nội 2004.
8.      Yarza, op.cit., p. 11-77
 
[1] Taylor, C.C.W. (2001). Socrates: A very short introduction. Oxford: Oxford University Press. P.233
[2] Vlastos, Gregory (1991). Socrates, Ironist and Moral Philosopher. Ithaca: Cornell University Press, p.7
[3]Samuel Enoch Stumpf, Lịch sử triết học và các luận đề, Đỗ Văn Thuấn & Lưu Văn Hy (chuyển ngữ), NXB Lao Động, Hà Nội 2004, tr 35-43.
[4] Lê Tôn Nghiêm, Lịch sử triết học Tây Phương, Tập II: Thời kỳ thượng cổ, NXB TPHCM, 2000, tr. 17
[5]  Socrates tự biện  (Apology of Socrates) , Nguyễn Văn Khoa dịch, NXB Tri Thức, 2006, tr.26
[6]Wadsworth, On Socrates, Belmont, CA, 2000, pp.20-29
[7] Bảy nhà hiền triết của Hy Lạp cổ đại thường được nhắc tới là Thales ở Miletus, Kleobulos ở Lindos,  Periandros ở Korinth, Bias ở Priene, Solon và Pittakos ở Mytilene và Epicharmos.
[8] X. Plato. Phaedo, tập 2, Nxb Tư tưởng, Mátxcơva, 1970, tr.96 (Thạc sĩ Nguyễn thị Vui, chuyển dịch)
[9]Chungta.com/tritelycuaSocrates
[10]Yarza, op.cit., p. 11-77
[11]Wadsworth, On Socrates, Belmont, CA, 2000, p.6